Logo Website

PHƯƠNG PHÁP HPLC-MS/MS ĐỊNH LƯỢNG PLATYCODIN D TRONG HUYẾT TƯƠNG CHUỘT CỐNG VÀ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP VÀO NGHIÊN CỨU DƯỢC ĐỘNG HỌC CAO CHIẾT RỄ CÁT CÁNH

24/02/2018
Phương pháp HPLC-MS/MS đã được phát triển và áp dụng thành công để đánh giá dược động học và sinh khả dụng của PD trên chuột cống sau khi uống PD và PRE

Mục đích: Phát triển phương pháp HPLC-MS/MS định lượng platycodin D (PD) trong huyết tương chuột cống để thu được các thông số chính về dược động học của PD sau khi uống PD tinh khiết hoặc cao chiết rễ cát cánh (PRE) có chứa PD.

Phương pháp: Mẫu huyết tương được xử lý bằng phương pháp chiết pha rắn, sử dụng cartridge Oasis® HLB SPE. Madecassosid được dùng làm chất nội chuẩn (IS). Phương pháp sắc ký được thực hiện trên cột ODS (100 mm × 2,1 mm i.d., 3.5 μm) với pha động gồm acetonitril/nước (30/70, v/v) chứa 0,1 mmol/lit ammonium acetate ở tốc độ dòng 0,25 ml/phút. Sử dụng detector khối phổ ba tứ cực song song dùng nguồn ion hóa phun mù điện tử (ESI) với thời gian chạy sắc ký là 3 phút. Việc phát hiện được thực hiện bởi MRM (multiple reaction monitoring) với sự phân mảnh của m/z 1223,6→469,2 đối với PD và m/z 973,6→469,2 đối với madecassosid (IS).

Kết quả: Đường chuẩn có khoảng tuyến tính từ 5 đến 2000 ng/ml (r2>0,99) với giới hạn định lượng thấp (LLOQ) là 5 ng/ml. Độ chính xác trong ngày và qua ngày (độ lệch chuẩn tương đối, RSD) có giá trị dưới 15% và tính đúng (sai số tương đối, RE) từ -15% đến +15% ở ba lần kiểm tra chất lượng (QC). Nồng độ của PD trong huyết tương được xác định vào thời điểm 24 h sau khi tiêm tĩnh mạch PD và uống PD, PDE tương ứng. Sinh khả dụng tuyệt đối theo đường uống của PD ở chuột cống được tìm thấy là (0,48 ± 0,19)% khi dùng PD và (1,81 ± 0,89)% khi dùng PRE

Kết luận. Phương pháp HPLC-MS/MS đã được phát triển và áp dụng thành công để đánh giá dược động học và sinh khả dụng của PD trên chuột cống sau khi uống PD và PRE.

N. T. T. Trang  dịch Zhan và cs., Chin J Nat Med, 201412(2):154-160   (Bản tin Dược liệu)