Logo Website

HOẮC HƯƠNG

07/09/2020
Cây Hoắc hương có tên khoa học: Pogostemon cablin (Blanco) Benth., họ Bạc hà (Lamiaceae). Công dụng: Chữa cảm mạo, nhức đầu, đau mình mẩy, sổ mũi, đau bụng ỉa chảy, nôn mửa, ăn uống không tiêu, hôi miệng. Cất tinh dầu: Tinh dầu hoắc hương là hương liệu quý

HOẮC HƯƠNG (广藿香)

Herba Pogostemonis

Tên khác: Thổ Hoắc hương, Quảng hoắc hương

Tên khoa học: Pogostemon cablin (Blanco) Benth., họ Bạc hà (Lamiaceae). 

Tên đồng nghĩaMentha auricularia Blanco; Mentha cablin Blanco; Pogostemon battakianus Ridl.;Pogostemon comosus Miq.; Pogostemon javanicus Backer ex Adelb.; Pogostemon mollis Hassk.; Pogostemon patchouli var. suavis (Ten.) Hook. f.; Pogostemon patchouly Pellet.; Pogostemon tomentosus Hassk.

Mô tả:  Cây thảo sống lâu năm, cao 30 - 60 cm. Thân hình trụ vuông, phân nhiều cành, cành hơi cong, dài 30-60 cm, đường kính 2-7 mm, có lông tơ. Chất giòn, dễ gẫy, ở mặt gẫy thấy tuỷ rõ. Thân già gần hình trụ, đường kính 10 - 12 mm, lớp bần màu nâu xám. Lá mọc đối, hình trứng, thường là một khối nhàu nát; lá nguyên hình trứng hoặc hình elip,  dài 4 - 9 cm, rộng 3 - 7 cm, cả hai mặt lá màu trắng xám có lông mượt như nhung, chóp lá hơi nhọn hoặc tròn, gốc lá vát nhọn hoặc tròn, mép lá có răng cưa ngắn. Mùi thơm đặc biệt, vị hơi đắng. Hoa màu hồng tím nhạt, mọc thành bông ở nách lá hay ở ngọn cành. Quả bế, có hạt cứng. Mùa hoa quả tháng 5 - 6; nhưng ít gặp cây có hoa.   

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Pogostemonis).

Phân bố, sinh tháiCây được trồng ở nhiều địa phương phía Bác nước ta.

Về nguồn gốc của loài hoắc hương, có giả thiết cho rằng xuất xứ từ vùng Bắc Đông Nam Á, nơi tiếp giáp với Trung Quốc. Cách đây khoảng 2000 năm, ở Trung Quốc đã trồng và sử dụng hoắc hương, ở Việt Nam, hoắc hương vốn được coi là cây trồng lâu đời rải rác trong nhân dân ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Lịch sử làm hương ở Việt Nam có liên quan đến việc trồng cây hoắc hương. Đến đầu thế kỷ 19, cây mới chính thức được trồng để lấy tinh dầu ở Penang (Malaysia), sau phát triển rộng ra Philippin; đảo Java và Sumatra (Indonesia); Ân Độ, Madagasca; quần đảo Seychelles; Braxin, Đài Loan và một số tỉnh ở phía nam Trung Quốc.

Hoắc hương là cây ưa ẩm và chịu bóng, sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình 22 - 28°C; lượng mưa 1600 - 2800 mm/năm. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất; nhưng tốt nhất là đất phù sa cổ, nhiều mùn. Cây trồng ở vườn nhà, nhất là vườn chuối thường phát triển tốt, chiều cao thân tới 1 m; lá nhiều và xanh. Trong khi đó, cây trồng trên đồng ruộng, lá thường ngả sang màu vàng nâu hay nâu tía, thân thấp và phân nhánh nhiều. Cây trồng ở Việt Nam hiếm thấy có hoa quả và có hiện tượng rụng lá vào mùa đông.

Trên thế giới, hoắc hương là một cây tinh dầu quan trọng. Tổng sản lượng tinh dầu hàng năm khoảng 1000 tấn. Riêng ở đào Sumatra (Indonesia) diện tích trồng hoắc hương tới 18.000 ha, xuất khẩu 350 - 850 tấn tinh dầu/năm. Hoa Kỳ mỗi năm phải nhập khẩu khoảng 500 tấn, tương đương khoảng 20 triệu USD; giá tinh dầu hoắc hương trên thị trường thế giới luôn ở khoảng 50 USD/kg (PROSEA 1999; Nol9 - Essential - Oil Plants; 152). Hoắc hương trồng ở Việt nam chủ yếu cung cấp cho nhu cầu trong nước, chưa có mặt trên thị trường thế giới.

Trồng trọt:

Hoắc hương được trồng ở một số tỉnh như Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định... trên các chân ruộng cao thoát nước. Ngoài ra còn được trồng phân tán khắp nơi trong các vườn gia đình.

Cây được nhân giống chủ yếu bằng giâm cành. Cần chọn cành bánh tẻ của cây trưởng thành, khỏe mạnh, không sâu bệnh, cắt thành đoạn dài 12 - 15 cm có ít nhất 2 đốt và giâm trong bầu, để nơi râm mát, tưới đủ ẩm, không tưới quá nhiều nước dễ làm cho cành giâm bị thối. Tốt nhất, trộn 2 phần đất tốt với 1 phần cát và một ít phân chuồng thật hoai mục để làm bầu, giữ độ ẩm khoảng 70%. Giâm khoảng một tháng, có thể đem đi trồng.

Đất trồng cần cày bừa kỹ để ải, bón lót15 -20 tấn phân chuồng hoai mục cho một hecta, lên luống cao 25-30cm, rộng 70-80 cm và trồng với khoảng cách 30 x 30 hoặc 40 x 40 cm. Cây không chịu hạn và đặc biệt kém chịu úng, vì vậy cần chú ý tưới nước đủ ẩm nhưng phải chủ động thoát nước nhanh khi gặp mưa úng. Thời gian đầu cần làm cỏ, xới xáo đảm bảo đất tơi xốp.

Bệnh thường thấy ở hoắc hương là thối rễ, nhiều khi gây hại rất trầm trọng. Cần đặc biệt quan tâm tới việc tưới tiêu một cách hợp lý và sớm phát hiện, loại bỏ cây bị bệnh để tránh lây lan. Ngoài ra, hoắc hương còn bị các loại sâu ăn lá gây hại.

Sau khi trồng 2 -3 tháng có thể thu lứa lá đầu tiên. Về sau, cứ 25 - 30 ngày thu một lần. về mùa đông, khi cây tàn lụi cần ngừng thu hoạch, tiến hành vệ sinh đồng ruộng và chăm sóc để cây qua đông.

Thu hái, sơ chếKhi cây có cành lá xum xuê, cắt lấy phần cây trên mặt đất, ngày phơi, đêm đậy kín, làm nhiều lần như vậy cho đến khi dược liệu khô. 

Bào chế:

+ Lá khô đem thái nhỏ dùng trong thuốc thang hoặc tán bột nhỏ để làm hoàn tán (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Phun nước cho ngấm đều, thái phiến, phơi khô để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Bảo quản: Đậy kín, để nơi khô ráo.

Thành phần hoá học: Tinh dầu (ít nhất 1,2%), thành phần chủ yếu trong tinh dầu là alcohol patchoulic (45%), patchoulen (50%) và một số thành phần khác như benzaldehyd, aldehyd cinnamic, eugenol, cadinen, sesquiterpen và epiguaipyridin.

Tác dụng dược lý:

+  Quảng Hoắc hương có tác dụng kháng khuẩn rộng: thuốc có tác dụng ức chế các loại nấm gây bệnh, leptospirosis, tụ cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh, E. coli, trực khuẩn lỵ, liên cầu khuẩn tán huyết typ A, phế song cầu khuẩn, rhino virus. Thuốc còn có tác dụng chống thối. Có tác dụng diệt sâu bọ và kích ứng da động vật thí nghiệm.

+  Tinh dầu Hoắc hương tăng tiết dịch dạ dày, tăng tiêu hóa.

+ Cho uống nước sắc Hoắc hương rồi dùng X. Quang theo dõi túi mật, thấy Hoắc hương có tác dụng làm co túi mật.

Công năng: Hoắc hương có tác dụng làm mạnh dạ dày - ruột, giúp sự tiêu hoá, hành khí, giảm đau. Lá có tác dụng hạ nhiệt.

Công dụng:

 -  Chữa cảm mạo, nhức đầu, đau mình mẩy, sổ mũi, đau bụng ỉa chảy, nôn mửa, ăn uống không tiêu, hôi miệng.

- Cất tinh dầu: Tinh dầu hoắc hương là hương liệu quý.

Bài thuốc:

1. Chữa cảm cúm, nhức đầu, mệt mỏi: Hoắc hương 6 - 12g sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác như Kinh giới, Tía tô, Ngải cứu, Hương nhu. 

2. Chữa ho: Hoắc hương phối hợp với lá Chanh, Gừng, Chua me đất, Cam thảo đất. 

3. Chữa ăn uống không tiêu, sôi bụng: Hoắc hương 12g, Thạch xương bồ 12g, hoa cây Đại 12g, vỏ Bưởi đào sao cháy 6g. Tất cả tán thành bột, trộn đều uống trước bữa ăn nửa giờ, mỗi lần 2g với nước chè nóng, ngày uống 3 lần. 

4. Chữa cảm mạo, sốt ăn không tiêu, đau bụng (Bài Hoắc hương chính khí): Hoắc hương 12g, Tô diệp 10g, Thương truật 8g, Cam thảo 3g, Trần bì 5g, Đại táo 4 quả, Hậu phác 3g, Phục linh 8g. Tất cả tán bột đều chia thành từng gói 8 - 10g. Người lớn uống mỗi lần 1 gói, ngày 2 - 5 lần. Trẻ em dưới 1 tuổi không nên dùng, từ 2 - 3 tuổi mỗi lần uống 1/4 gói, từ 4 - 7 tuổi mỗi lần uống 1/3 gói. Từ 8 - 10 tuổi mỗi lần 1/2 gói.

5. Chữa hoắc loạn thổ tả gần chết, uống vào thì có thể sống lại: Hoắc hương diệp, Trần bì, mỗi vị 20g, cho vào 2 bát nước, sắc lấy 1 bát uống lúc nóng (Bách Nhất Tuyển phương).

6. Chữa cảm nắng, thổ tả: Hoạt thạch (sao) 80g, Hoắc hương 8g, Định hương 2g. Tán bột, mỗi lần uống 8g với nước vo gạo (Vũ Giảng Sư, Kinh Nghiệm phương).

7. Trị thai động không yên, khí không lên xuống, nôn ra nước chua: Hương phụ, Hoắc hương, Cam thảo mỗi vị 8g, tán bột. Mỗi lần dùng 4g, thêm ít muối vào, uống với nước sôi (Thánh Huệ phương).

8. Chữa miệng hôi: sắc lấy nước Hoắc hương súc miệng thường xuyên (Trích Huyền phương).

9. Chữa xông pha nơi có nhiều sương mù, sinh ra lở loét: Hoắc hương, Tế trà, hai vị bằng nhau, đốt thành tro, trộn với dầu, để trên lá, đắp vào nơi đau (Ứng Hiệu phương).

10. Chữa hoắc loạn: Hoắc hương, Súc sa mật, Sao diêm (muối rang) (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

11. Chữa hoắc loạn, thổ tả, vọp bẻ: Hoắc hương, Nhân sâm, Quất bì, Mộc qua, Phục linh, Súc sa mật (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

12. Chữa trúng phải khí ác, đau bụng như thắt: Hoắc hương, Mộc hương, Trầm thủy hương, Nhũ hương, Súc sa mật (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

13. Trị tự nhiên trúng phải hàn tà, nôn nghịch liên tục: Hoắc hương, Mộc hương, Đinh hương, Tử tô diệp, Nhân sâm, Sinh khương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

14. Chữa thương thử vào mùa hè thu, ngực tức, chóng mặt, muốn nôn, trong miệng nhớt dẻo, không muốn ăn uống: Hoắc hương, Bội lan, mỗi thứ 12g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

15. Chữa ho, hàn thấp trở trệ bên trong, vị khí mất chức năng giáng xuống, bụng đầy tức, ăn ít, nôn mửa: Hoắc hương diệp 12g, Bán hạ (chế) 12g, Đinh hương 2g, Trần bì 12g, sắc uống (Hoắc Hương Bán Hạ Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

16. Chữa viêm trường vị cấp tính thuộc hàn thấp: Hoắc hương, Bán hạ (chế), mỗi thứ 12g, Thương truật, Trần bì, mỗi thứ 8g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

17. Chữa đầy tức bụng và vùng vị quản, nôn mửa không muốn ăn: Hoắc hương diệp 12g, Trần bì 6g, Đảng sâm 12g, Bán hạ 6g, Xích phục linh 12g, Thương truật 12g, Hậu phác 12g, Cam thảo 4g, Sinh khương 3 lát. Sắc uống nóng (Hoắc Hương Ẩm Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

18. Chữa tỳ vị khí trệ, bụng đầy, vùng trung quản đầy: Hoắc hương 12g, Sa nhân 6g, Hậu phác 12g, Trần bì 4g, Thanh mộc hương 12g, Chỉ thực 12g Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

19. Chữa mũi viêm mạn tính: dùng Hoắc hương 160g, tán bột, trộn mật heo làm viên. Mỗi lần uống 4g với nước, ngày 2 lần, liên tục 2-4 tuần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 - 12g, dạng thuốc hãm hay bột.

Kiêng kỵ: Cơ thể háo nhược, thiếu máu, huyết áp cao, ngủ kém, đại tiện khó, tiểu tiện ít, vàng đỏ, không nên dùng.

Cây có công dụng tương tự:

Ở vùng núi cao, trong các vườn gia đình của dân tộc ít người, có một cây cũng mang tên hoắc hương(Hoắc hương núi) có tên khoa học là Agastache rugosus (Fisch. et Meyer) O.Ktze, họ Bạc hà (Lamiaceae), tên Anh là wrinkle giant, hyssop. Cây có vài điểm sai khác như thân vuông, có cạnh rõ, màu lục, lá có đầu nhọn hoắt, răng cưa đều; hoa rất nhiều mọc dày đặc như đuôi sóc, màu tun hoặc màu trắng.

Tham khảo:

- Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu)

- Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi)

- Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam (Đỗ Tất Lợi)

- theplanlist.org

- efloras.org