Logo Website

CHỈ THỰC-CHỈ XÁC

05/06/2020
CHỈ THỰC có tên khoa học: Citrus × aurantium L., họ Cam (Rutaceae). Công dụng dùng làm thuốc giúp tiêu hóa, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu, chữa ho, lợi tiểu, ra mồ hôi.

CHỈ THỰC (枳实)

Fructus Aurantii immaturus

Tên khác: Trấp, Chấp, Kim quất, Chỉ thiệt, Chanh xác, Khô chanh, Đổng đình, Phá hông chùy

Tên khoa học: Citrus × aurantium L., họ Cam (Rutaceae).

Tên đồng nghĩaAurantium acre Mill.; Aurantium corniculatum Poit. & Turp.; Aurantium distortum Miller; Aurantium humile Mill.; Aurantium myrtifolium Descourt.; Aurantium sinense Mill.; Aurantium vulgare (Risso) M.Gomez; Citrus amara Link; Citrus bigaradia Loisel.; Citrus changshan-huyou Yin-bin Chang; Citrus communisPoiteau & Turpin; Citrus daidai Bieb. ex Van Houtte; Citrus daidai Sieb. ex Hayata; Citrus decumana var. paradisi (Macfadyen) H.H.A.Nicholls; Citrus decumana var. pationiana Riccob.; Citrus decumana var. racemosaM.Roemer; Citrus dulcis Pers.; Citrus florida Salisb.; Citrus grandis var. racemosa (M.Roemer) Stone ex Dassan.; Citrus humilis (Miller) Poir.; Citrus madraspatana hort. ex Tanaka; Citrus maxima var. uvacarpa Merr. & Lee; Citrus myrtifolia (Ker Gawler) Raf.; Citrus nobilis Lour.; Citrus paradisi Macfad.; Citrus paradisii Macf.; Citrus sinensis (L.) Osbeck; Citrus sinensis subsp. crassa (Risso) D.Rivera, Obón, S.Ríos, Selma, F.Méndez, Verde & F.Cano; Citrus sinensis subsp. fetifera (Risso) D.Rivera, Obón, S.Ríos, Selma, F.Méndez, Verde & F.Cano; Citrus sinensis subsp. lusitanica (Risso) D.Rivera, Obón, S.Ríos, Selma, F.Méndez, Verde & F.Cano; Citrus taiwanica Tanaka & Shimada; Citrus tangelo Ingram & H.E.Moore; Citrus vulgaris Risso 

Mô tả:

Cây: Cây gỗ cao 4-5m hay hơn, phân nhánh nhiều, cành có gai dài và nhọn. Lá hình trái xoan nhọn, nguyên, hơi dai, bóng, phiến dài 5-10cm, rộng 2,5-5cm, có đốt trên cuống, nở thành một cánh rộng hay hẹp tuỳ thứ. Hoa màu trắng họp thành xim nhỏ ở nách lá. Quả hình cầu kích thước trung bình có đường kính 6-8cm, khi chín màu da cam, mặt ngoài sù sì. Ở var. amara Engl. hay Cam đắng, cuống lá có cánh rộng, quả màu da cam hay đỏ da cam, có trung tâm rỗng, vỏ dính, nạc chua.  

Dược liệu hình bán cầu, một số có hình cầu, đường kính 0,5-2,5 cm. Vỏ ngoài màu lục đen hoặc màu lục nâu thẫm với những nếp nhăn và những điểm lỗ hình hạt, có vết cuống quả hoặc vết sẹo của vòi nhụy. Trên mặt cắt, vỏ quả giữa hơi phồng lên, màu trắng vàng hoặc nâu vàng, dày 0,3-1,2 cm, có 1-2 hàng túi tinh dầu ở phần ngoài. Vỏ quả trong và múi quả màu nâu. Chất cứng. Mùi thơm mát, vị đắng, hơi chua.

Phân bố:

Loài này có nguồn gốc từ Ấn Độ, Malaysia, sau đó lan rộng ra các nước Đông Nam Á bao gồm Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Ở nước ta, cây Trấp mọc hoang và được trồng tại nhiều tỉnh ở miền Bắc. Cây thường được tìm thấy ở các tỉnh thành như Hà Nam, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình và một số nơi khác.

Dược liệu thu hái trong nước, đôi khi nhập từ Trung Quốc. 

Bộ phận dùng: Quả non phơi khô của cây Chanh chua Citrus x aurantium L. và một số loài Citrus khác, họ Cam (Rutaceae). 

Thu hái, sơ chế: Vào tháng 4-6 lúc trời khô ráo, thu nhặt các quả non rụng dưới gốc cây thì được Chỉ thực. Dùng quả có đường kính dưới 1cm thì để nguyên, quả có đường kính trên 1cm thì bổ đôi theo chiều ngang, khi dùng rửa sạch đất bụi, ủ mềm, xắt lát hay bào mỏng, sao giòn.

Bào chế:

Theo Trung y:

Chọn thứ cay đắng, còn dầu, để được càng lâu càng tốt. Bỏ hết hột và ruột, sao với cám đến khi cám cháy đen là được, sàng bỏ cám mà dùng.

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Rửa sạch, ủ mềm, nạo bỏ ruột, hột, thái hay bào mỏng, phơi khô (cách này thường dùng).

Sau khi phơi khô, có thể sao với cám, đến khi cấm vừa đủ thơm thì được (cách này dùng cho người sức yếu).

Bảo quản: Dược liệu dễ mốc, cần để nơi mát, khô ráo, không sấy hoặc sao ở nhiệt độ cao.

Thành phần hoá học : Tinh dầu, flavonoid (hesperidin, neohesperidin), pectin, saponin, alcaloid, acid hữu cơ.

Tinh dầu: neroli oil (Hoa): linalool (34.4%), linalyl acetate (11.3%) và limonene (10.9%). petitgrain oil (lá) thành phần chính là linalool (36.8%), linalyl acetate (22.1%) và α-terpineol (11.7%). Peel oils (quả) thành phần chính là limonene (90.6%).

Tác dụng dược lý: 

+ Chỉ thực và Chỉ xác đều có tác dụng cường tim, tăng huyết áp do thành phần chủ yếu neohesperidin, nhưng không làm tăng nhịp tim. Thuốc có tác dụng co mạch, tăng lực cản của tuần hoàn ngoại vi, tăng co bóp của cơ tim, tăng lượng cGMP của cơ tim và huyết tương chuột nhắt. Chỉ thực còn có tác dụng tăng lưu lượng máu của động mạch vành, não và thận, nhưng máu của động mạch đùi lại giảm.

+ Chỉ thực và Chỉ xác sắc nước đều có tác dụng ức chế cơ trơn ruột cô lập của chuột nhắt, chuột lang và thỏ, nhưng cho chó có gây dò bao tử và ruột thì thuốc lại có tác dụng hưng phấn làm cho nhịp co bóp của ruột và bao tử tăng, đó cũng là căn cứ dược lý của thuốc dùng để trị các chứng sa bao tử, giãn bao tử, lòi dom, sa ruột...

Kết quả thực nghiệm cho thấy Chỉ thực và Chỉ xác vừa có tác dụng làm giảm trương lực cơ trơn của ruột và chống co thắt vừa có thể hưng phấn tăng nhu động ruột, do trạng thái chức năng cơ thể, nồng độ thuốc và súc vật thực nghiệm khác nhau mà có tác dụng cả hai mặt ngược nhau, như vậy dùng thuốc để điều chỉnh sự rối loạn chức năng đường tiêu hóa ở trạng thái bệnh lý là tốt.

+ Chỉ thực và Chỉ xác sắc nước có tác dụng hưng phấn rõ rệt đối với tử cung thỏ có thai hay chưa có thai, cô lập hay tại thể, nhưng đối với tử cung chuột nhắt cô lập lại có tác dụng ức chế. Tác dụng hưng phấn tử cung của thuốc là phù hợp với kết quả điều trị sa tử cung có kết quả trên lâm sàng.

+ Chỉ thực có tác dụng lợi tiểu, chống dị ứng, glucosid của Chỉ thực có tác dụng như Vitamin P làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch.

Tính vị: Tính hơi hàn, vị đắng (theo Trung Dược Học)

Quy kinh: Kinh Vị, Tỳ (theo Trung Dược Học)

Công năng: Phá khí tiêu tích, hoá đờm tiêu bĩ

Công dụng:  Thuốc giúp tiêu hóa, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu, chữa ho, lợi tiểu, ra mồ hôi.

Cách dùng, liều lượng: 6 - 12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc.

Bào chế:

Loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái lát dày và phơi khô. Lát thái không đều hay tròn dài 2,5, rộng 1,2cm, đường kính 0,3 – 1,5 cm. Vỏ ngoài lát thái có màu lục đen hay nâu thẫm, vỏ giữa có màu trắng hơi vàng hay nâu hơi vàng, có 1- 2 hàng túi tinh dầu ở phần ngoài, vỏ trong và tép màu nâu.

Chỉ thực sao cám: Cho cám vào chảo, đun đến khi bốc khói, cho chỉ thực dã thái lát vào, sao đến khi bề mặt thuốc chuyển sang màu vàng hay thẫm đều lấy ra loại bỏ cám và để nguội. Dùng 1 kg cám cho 10 kg dược liệu.

Bài thuốc: 

1. Chữa táo bón:

+ Chỉ thực đạo trệ hoàn (Nội ngoại thương biện luận): Chỉ thực, Bạch truật, Phục linh, Thần khúc, Trạch tả, Đại hoàng đều 10g, Hoàng liên 4g, Sinh khương 8g, Hoàng cầm 8g, tán bột làm hoàn hoặc sắc uống. Trị: trường vị tích nhiệt, bụng đầy táo bón.

+ Tiểu thừa khí thang (Thương hàn luận) Chỉ thực, Hậu phác, Đại hoàng lượng bằng nhau sắc uống hoặc tán bột làm hoàn. Trị: táo bón do nhiệt kết.

+ Chỉ kết hoàn ( kinh nghiệm): Chỉ thực, Bồ kết đều 20g tán mịn viên bằng hạt ngô, mỗi ngày uống 10 viên, tối trước lúc ngủ.

2. Chữa rối loạn tiêu hóa, thực tích đầy bụng: dùng các bài:

+ Chỉ truật hoàn (Kim quỉ yếu lược): Chỉ thực ( mạch sao) 40g, Bạch truật 80g tán bột làm hoàn, mỗi lần uống 4 - 8g tùy tuổi với nước cơm.

+ Khúc mạch chỉ truật hoàn (y học chính truyện): tức Chỉ truật hoàn gia Mạch nha, Thần khúc lượng bằng Chỉ thực tăng tác dụng tiêu thực.

3. Chữa suy tim: Tổ nghiên cứu bệnh tim mạch nội khoa Bệnh viện trực thuộc số 1 Trường Đại học Y Hà nam dùng dịch chích (tương đương 40g thuốc, nặng trên 60kg dùng 60g) cho vào 250ml glucose 10% nhỏ giọt tĩnh mạch 1 lần. Trị 20 ca có tác dụng cường tim lợi tiểu. Có 4 ca dùng dịch chích Chỉ thực 80g cho vào 10% dung dịch glucose 500ml, truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, một liệu trình là 10 ngày có kết quả tốt. (Tạp chí Trung thảo dược 1980, 4:171)

4. Chữa sa tử cung: Diệp khắc Nghĩa dùng Thăng đề thang: Chỉ thực, Sung úy tử đều 15g sắc đặc uống 100ml trong một ngày, liệu trình một tháng. Kết quả trị sa tử cung độ 1 được 924 ca, tỷ lệ khỏi 83,87% (Tạp chí kết hợp Trung tây y 1984, 4:238).

5. Chữa trẻ nhỏ tiêu ra cơm nước không đều, lỵ lâu ngày không khỏi: 4 – 8 g Chỉ xác tán thành bột mịn, dùng pha với nước, uống mỗi ngày.

6. Chữa lỵ: 96 g Chỉ xác sao, 24 g Cam thảo, tán thành bột mịn, trộn đều. Mỗi lần sử dụng 8 g uống với nước ấm.

7. Chữa chứng khó tiêu ở trẻ nhỏ: Chỉ xác nướng kết hợp với Cam thảo, mỗi vị 4 g, sắc thành nước, dùng uống.

8. Chữa răng đau nhức: Dùng một lượng vừa đủ Chỉ xác-Chỉ thực, ngâm rượu, dùng để súc miệng.

9. Chữa lở loét sưng đau: 

+ Sử dụng Chỉ xác nướng nóng chườm vào chỗ đau.

+ Sử dụng bột nghiền Chỉ xác, bỏ vào bình nấu sôi thật lâu, sau đó dùng rửa vùng da bệnh.

10. Chữa nấc cụt do phong hàn, cảm mạo: Chỉ xác 20 g, Mộc hương 4 g, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 4 g với nước sôi.

11. Điều trị ruột xệ xuống khi sau sinh sản: Chỉ xác sắc lấy nước, dùng ngâm.

12. Chữa phụ nữ đau bụng dữ dội khi mang thai: 120 g Chỉ xác (sao qua cám), 40 g Hoàng cầm, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 20 g với 1.5 chén nước. Nếu bụng phù căng thì có thể cho thêm 40 g Bạch truật.

13. Chữa trẻ con động kinh, co giật, nghẹt đờm, nôn mửa: Chỉ xác bỏ múi và Đạm đậu khấu, mỗi vị phân lượng bằng nhau, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 1/2 muỗng cà phê, trường hợp nặng thì dùng 1 muỗng.

Nếu giật kinh phong cấp thì sử dụng Bạc hà giã nát, chắt lấy nước, dùng uống kèm thuốc. Nếu giật kinh phong mạn tính thì dùng Kinh giới nấu với 3 – 5 giọt rượu, uống kèm thuốc. Mỗi ngày uống thuốc 3 – 5 lần.

14. Chữa thương hàn do âm chứng, uống sai thuốc gây tức ngực nhưng không đau: Chỉ xác, Binh lang, mỗi vị phân lượng bằng nhau, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng uống 12 g với nước sắc Hoàng liên.

15. Chữa trẻ nhỏ có mụn nhọt mềm, trong chứa dịch: 1 trái Chỉ xác lớn, mài cho bằng miệng, rồi dùng Hồ miến thoa quanh miệng dược liệu. Sau đó dùng úp dược liệu lên đầu mụn nhọt có thể ra hết máu, mủ và không để lại sẹo.

16. Hỗ trợ sáng mắt, làm lợi khí: 40 g Chỉ xác, sao đen, tán bột, dùng uống với nước.

17. Chữa đầy hơi chướng bụng, khí huyết ngưng trệ: bài thuốc Tứ Diệu Hoàn bao gồm 160 g Chỉ xác (lưng còn xanh, bỏ múi) chia thành 4 phần. 40 g sao với Thương truật, 40 g sao với Hồi hương, 40 g sao với La bặc, 40 g sao với Can tất. Sau khi sao thì bỏ các vị thuốc đi, chỉ giữ lại Chỉ xác, tán bột, trộn đều, gia thêm nước trọn bột gạo làm thành viên hoàn kích thước bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần dùng uống 50 viên với nước cơm, sau khi ăn.

18. Chữa tiêu ra máu: 240 g Chỉ xác (sao đen với cám), 240 g Hoàng kỳ, tán thành bột. Mỗi lần dùng uống 8 g với nước cơm hoặc trộn với hồ làm thành viên hoàn.

19. Chữa xương sườn đau nhức: 40 g Chỉ xác, Đào chi 20 g, tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng 4 g uống với nước sắc Gừng và Táo.

20. Tiêu tích, thuận khí, ngũ tích lục tụ: Dùng 3 cân Chỉ xác (bỏ múi và hạt). Mỗi trái Chỉ xác cho 1 hạt Ba đậu nhân vào, úp kín, nấu lửa nhỏ trong 1 ngày. Khi cạn nước thì đổ nước thêm, khi thêm cần thêm nước nóng, nấu đến khi cạn. Sau đó bỏ hạt Ba đậu đi, lấy phần Chỉ xác phơi nắng, sao khô, tán bột, gia thêm giấm gạo là, thành viên hoàn to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần dùng uống 30 – 40 viên.

21. Chữa đau nhức trong ngực, đau cứng ngay dưới tim, đau xóc từ xương sườn đến tim: 4 quả Chỉ thực (càng lâu năm càng tốt), 120 g Hậu phác, Qua lâu 1 trái, 240 g Phỉ bạch, 30 g Quế, 5 thăng nước. Đầu tiên, sắc Chỉ thực và Hậu phác, lấy nước bỏ bã, sau đó xong cho các vị thuốc còn lại vào sắc thành thuốc, chia làm 3 lần uống trong ngày.

22. Chữa bôn đồn khí thống: Chỉ thực sao đen, tán bột. Mỗi ngày uống 12 g, ngày uống 3 lần, đêm uống 1 lần.

23. Chữa phong chẩn ngoài da: Chỉ thực tẩm với giấm gạo, sao vàng, chườm vào bùng da bệnh.

24. Chữa lỵ gây sa trực tràng: Chỉ thực, mài đá nhẵn một mặt, sao vàng với mật ong, chườm đến khi trực tràng rút lên.

25. Chữa âm hộ đau sưng: 240 g Chỉ thực, giã nát, sao vàng, gói trong vải sạch, chườm lên chỗ đau. Khi nguội thì sao nóng và chườm lại đến khi hết đau.

Kiêng kỵ:

- Tỳ vị hư yếu, hàn mà không có thấp tích không nên dùng.

- Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai.

- Không có khí trệ thực tà không nên dùng.

Tham khảo:

- Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu)

- Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi)

- Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam (Đỗ Tất Lợi)

- theplanlist.org

- O. Boussaada  & R. Chemli; Chemical composition of essential oils from flowers, leaves and peel of Citrus aurantium L. var. amara from Tunisia; Journal of Essential Oil Bearing Plants, Volume 9, 2006, Issue 2, Pages 133-139

CHỈ XÁC (枳壳)

Fructus Citri aurantii

Tên khác:  Thanh bì

Nguồn gốc: Citrus × aurantium L.; họ Cam (Rutaceae).

Mô tả: 

Chỉ xác cũng giống như Chỉ thực, Chỉ thực dùng quả non, còn Chỉ xác là quả hái vào lúc gần chín, thường bổ đôi để phơi cho mau khô. Chỉ xác to hơn Chỉ thực và thường được bổ đôi (Xem: Chỉ thực).

Bộ phận dùng: Quả già phơi khô của cây Chanh chua (Citrus auranticum L.) và một số loài Citrus khác họ Cam (Rutaceae). 

Phân bố: Dược liệu có trong nước, đôi khi nhập từ Trung Quốc. 

Thu hái: vào tháng 7 - 8, lúc trời khô ráo, hái các quả xanh, bổ ngang làm đôi, phơi hoặc sấy nhẹ ở 40 – 50 oC cho tới khô. 

Tác dụng dược lý: 

+ Chỉ thực và Chỉ xác đều có tác dụng cường tim, tăng huyết áp do thành phần chủ yếu Neohesperidin, nhưng không làm tăng nhịp tim. Thuốc có tác dụng co mạch, tăng lực cản của tuần hoàn ngoại vi, tăng co bóp của cơ tim, tăng lượng cGMP của cơ tim và huyết tương chuột nhắt. Chỉ thực còn có tác dụng tăng lưu lượng máu của động mạch vành, não và thận, nhưng máu của động mạch đùi lại giảm.

+ Chỉ thực và Chỉ xác sắc nước đều có tác dụng ức chế cơ trơn ruột cô lập của chuột nhắt, chuột lang và thỏ, nhưng cho chó có gây dò bao tử và ruột thì thuốc lại có tác dụng hưng phấn làm cho nhịp co bóp của ruột và bao tử tăng, đó cũng là căn cứ dược lý của thuốc dùng để trị các chứng sa bao tử, giãn bao tử, lòi dom, sa ruột...

Kết quả thực nghiệm cho thấy Chỉ thực và Chỉ xác vừa có tác dụng làm giảm trương lực cơ trơn của ruột và chống co thắt vừa có thể hưng phấn tăng nhu động ruột, do trạng thái chức năng cơ thể, nồng độ thuốc và súc vật thực nghiệm khác nhau mà có tác dụng cả hai mặt ngược nhau, như vậy dùng thuốc để điều chỉnh sự rối loạn chức năng đường tiêu hóa ở trạng thái bệnh lý là tốt.

+ Chỉ thực và Chỉ xác sắc nước có tác dụng hưng phấn rõ rệt đối với tử cung thỏ có thai hay chưa có thai, cô lập hay tại thể, nhưng đối với tử cung chuột nhắt cô lập lại có tác dụng ức chế. Tác dụng hưng phấn tử cung của thuốc là phù hợp với kết quả điều trị sa tử cung có kết quả trên lâm sàng.

+ Chỉ thực có tác dụng lợi tiểu, chống dị ứng, Glucosid của Chỉ thực có tác dụng như Vitamin P làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch.

Thành phần hoá học : Tinh dầu (α-pinene, limonene, camphene, terpinene, p-cymene, caryophyllene, flavonoid (hesperidin, neohesperidin, naringin), pectin, saponin, alcaloid, acid hữu cơ.

Công năng: Phá khí hoá đờm tiêu tích (Hoà hoãn hơn Chỉ thực).

Công dụng: Thuốc giúp tiêu hóa, chữa ngực sườn đau tức, bụng chướng khó tiêu.

Cách dùng, liều lượng:  6 - 12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Bào chế:

Chỉ xác phiến: Loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, nạo bỏ ruột, hột, thái lát ngang, phơi hoặc sấy khô. Lát thái hình dải hay hình cung không đều, dài 5 cm rộng đến 1,3 cm. Quan sát lát ngang bề ngoài màu nâu đến nâu thẫm, giữa có màu nâu hơi vàng hoặc trắng, có 1 - 2 lớp túi tinh dầu ở phía ngoài vỏ, đôi khi thấy tép màu nâu hay tía đỏ, sợi cứng, mùi thơm, vị đắng, hơi chua.

Chỉ xác sao cám: Cho cám vào chảo, đun đến khi bốc khói cho Chỉ xác phiến vào sao đến khi có màu vàng thẫm lấy ra, sàng bỏ cám, để nguội. Dùng 1 kg cám cho 10 kg Chỉ xác. Các phiến hình dải hay hình vòng cung không đều, hơi thẫm màu, đôi khi có vết cháy, mùi thơm nhẹ.

Kiêng ky: Tỳ vị hư hàn, không tích trệ, đàn bà có thai sức yếu không nên dùng.

Tham khảo:

- Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Viện dược liệu)

- Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi)

- Những cây thuốc và vị thuốc Việt nam (Đỗ Tất Lợi)

- theplanlist.org

Bài viết Cây thuốc - Vị thuốc khác